LINH ĐẠO DÒNG PHAN SINH TẠI THẾ (OFS) SỐNG PHÚC ÂM ĐỨC GIÊSU KITÔ-ĐI TỪ PHÚC ÂM ĐẾN CUỘC SỐNG-VÀ TỪ CUỘC SỐNG ĐỀN PHÚC ÂM

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014

TINH THẦN GIA ĐÌNH NAZARETH






Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đề cao gia đình bằng một tên gọi mới. Đó là “Hội Thánh Tại Gia”.
Thiết nghĩ không còn một định nghĩa nào thâu tóm được hết tính chất cao cả và mầu nhiệm của tên gọi Nazareth, vì trong suốt cuộc đời tận hiến của Đức Gioan-Phaolô II, đã yêu mến “mái ấm Thánh Gia Thất”
 Chắc chắn trong tâm khảm của ngài, Đức Gioan Phaolô II đã liên tưởng đến nhiều gia đình công giáo và những gia đình này đã hiến dâng cho Chúa những vị thánh, những giám mục, những linh mục và những tu sĩ thánh thiện, trải qua các thời đại, các thời kỳ trong lịch sử của nhân loại

Là Kitô hữu, là gia đình Công giáo, thì chúng ta không thể không nhận Gia đình Nazareth làm gương mẫu cho đời sống đạo của mình.
Gia đình Nazareth, gia đình Chúa vẫn vẩn luôn gánh lấy những gian nan, vất vả ,  nghèo khó và những đớn đau tủi nhục, đến nỗi lặng câm đón nhận lấy cái án tử đối với Chúa Giêsu, mà khi Đức Mẹ Maria tiếp nhận truyền tin từ thiên sứ, Người đã nghe nói: “Và này, nơi lòng dạ, người sẽ thụ thai, và sinh con, và người sẽ gọi tên Ngài là Giêsu. Ngài sẽ làm lớn, và được gọi là Con Đấng Tối cao và Chúa Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngai Đavít cha Ngài; và Ngài sẽ làm vua trên nhà Giacóp cho đến đời đời, và vương quyền của Ngài sẽ vô cùng vô tận!” (Lc 1,31-33). Vậy mà sau 33 năm . Đức Mẹ lại đón nhận con mình với một thân thể bầm tím đầy máu,
không còn hình tượng!

Trên thế giới nầy cóngười mẹ trần thế nào như Đức Mẹ Maria?

Còn thánh Giuse  .Suốt cuộc đời lao động vất vả, bôn ba vì con trẻ Giêsu, thuộc hoàng tộc Đavít, mà Giuse âm thầm chịu đựng, luôn lắng nghe, suy niệm và làm theo thánh ý Chúa trong mọi biến cố, từ việc đón nhận Maria đang thụ thai về nhà mình, đến việc nửa đêm trỗi dậy mang trẻ Giêsu và Maria sang nước Ai Cập, để tránh việc Hêrôđê truy sát giết chết con trẻ này.Giuse đã sống cuộc đời âm thầm và rất tầm thường. Không một bản văn kinh thánh nào nói đến Giuse, ngoài 3 chữ : “Bác thợ mộc”, mà lại nói đến một cách có vẻ như coi thường cái nghề chân tay này.Thế nhưng, đó là một đấng “Công chính”, người đã sống một cuộc đời đẹp lòng Thiên Chúa.

Còn Chúa Giêsu ? Người là Con Thiên Chúa, là Đấng Thiên Sai, nhưng tự hạ mình để yêu mến và phục vụ con người và cuối cùng tự hủy để nên trọn là Người Con Chí Ái của Chúa Cha,đã hoàn tất công cuộc cứu chuộc tại đồi Canvê. Chính nơi này, tại đồi nầy, Chúa Giêsu đã vào vinh quang với Cha của Ngài.

Đó là con đường Chúa Giêsu đã đi. Không có con đường thứ hai . 

Còn chúng ta biết đi con đường nào ,ví bản tính con người chúng ta luôn lo sợ và muốn tránh xa đau khổ, gian nan và thử thách.
 Khi không thể tránh được thì buông lời đắng cay, chán nản, ngã lòng, mất lòng cậy trông vào tình thương của Chúa, để cuối cùng là mất đức tin, và không tin vào Lời Chúa: “Kẻ nào kiên nhẫn đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu!” (Mt 24, 13)

Một số khác khi đạt tới danh vọng, giàu có thì lại như muốn dừng chân ở điểm này mà quên đi mình là phận người, một ngày nào đó chẳng biết, cũng trở về với đất, trở về tro bụi.

Có lần, Chúa Giêsu dẫn Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi Tabor, Người cho các ông thấy Thánh Nhan của Người trong giây lát: áo Người nên rạng ngời trắng tinh không thợ giặt trần gian nào giặt được trắng như thế.(Mc 9,3) Thấy thế, các môn đệ của Chúa mừng quýnh lên, muốn “cắm lều” ở lại đó luôn. Nhưng Chúa Giêsu đã dẫn các ông “xuống núi” trở về với “giây phút hiện tại” của kiếp người.

 Các ông đã đi hết đoạn đường phải đi đâu! Vội vàng làm chi?

 Lần thứ hai, khi Đức Chúa Giêsu lên trời sau 40 ngày từ cõi chết sống lại, các môn đệ cũng mãi nhìn lên trời để chiêm ngắm vinh quang của Thầy đến ngất ngây, khiến hai thiên sứ y phục trắng ngời đứng bên họ mà nhắc:

“Các ông, người Galilê, tại sao các ông cứ đứng đó nhìn trời?  Đức Giêsu đây, Đấng vừa siêu thăng xa cách các ông, Ngài sẽ đến cũng một thể như các ông đã thấy Ngài đi về trời.” (CVTĐ 1,11).

Người Kitô hữu chúng ta nói mình yêu thánh giá, vác thánh giá theo Chúa. Nhưng chưa có thánh giá nào hết, vì lúc đang còn được hưởng cái thứ bình an của trần thế. Đến khi gian truân, cùng khổ, hoạn nạn đến thì lại không muốn nhận thánh giá ,và còn tìm cách  đẩy thánh giá cho người khác mang, họ đành vác với tâm trạng   miễn cưỡng 

Nhận gia đình Nazareth làm mẫu gương không có nghĩa là chúng ta chỉ dừng lại ở những ý niệm về đạo đức, thánh thiện, vâng phục, lao động, khiêm nhường. Nhưng  còn phải chấp nhận thử thách, khổ đau,  yêu mến sự thanh bần,  trong sạch , sống thánh thiện, sống đời sống thiêng liêng, sống nội tâm, sống kết hiệp với Chúa Giêsu, cầu nguyện, chay tịnh tâm hồn, chay tịnh thể xác, và không thể không thực thi sự công chính.

Gia đình Nazareth khi xưa sống thanh bần , gia đình Nazareth đầy tràn ân sủng, vì từ Đức Chúa Giêsu, Đức Mẹ Maria và thánh Giuse, sống là để thực thi ý Thiên Chúa, tâm hồn luôn hướng về trời, nguyện xin cho đươc vâng theo ý Cha. 

Nếu trong mọi gia đình chúng ta có Thiên Chúa ở cùng là có tất cả, không thiếu thốn chi.Đó là sự giàu sang mà người Kitô hữu nào cũng nên “mua sắm” lấy cho mình.

Trong Tin Mừng  Luca,(16, 19-31),nói đến một người giàu có, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cửa ông nhà giàu, những ước ao có được những miếng thừa liệng dưới bàn ông nhà giàu mà ngốn cho no…

Dưới con mắt người đời, Ladarô là con người cùng khổ. Nhưng với con mắt đức tin, Ladarô lại là người giàu, còn người phú hộ kia thì lại nghèo.Cái nghèo của một tâm hồn không biết đến người bên cạnh mình, không quan tâm đến ai Còn Ladarô, tâm hồn luôn .hướng về trời, hướng về Chúa tình yêu. Cho nên, khi chết, Ladarô được Abraham ôm vào lòng; còn ông nhà giàu kia phải đau khổ ở nơi hỏa ngục.

Còn chúng ta nhửng Người Kitô hữu chỉ có thể chọn một trong hai cách sống trên đây mà thôi ?





Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014

LINH ĐẠO KITÔ HỮU


 Linh đạo Ki tô hữu được đặt trên  nền tảng Bí tích Thanh Tẩy.

"Còn anh em"anh em là giống nòi được tuyển chọn ,là hàng tư tế vương giả ,là dân thánh ,dân riêng của Thiên Chúa,để loan truyền những kỳ công của Người'
(1 Pr 2,9)
Khi lãnh nhận Bí tích Thanh Tẩy, người Kitô hữu được chia sẻ ba chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô. Tuy nhiên, người giáo dân, do tính cách trần thế, đã hành xử 3 chức vụ này khác với hàng giáo sĩ. 

 Vai trò tư tế
Người giáo dân được chia sẻ chức tư tế Chúa ban cho Giáo Hội, gọi là chức tư tế cộng đồng. Nhờ chức tư tế này, người giáo dân có thể thực sự thánh hoá đời sống mình, thánh hoá mọi sinh hoạt trần thế, mọi chức vụ, và ngay cả những khó khăn thử thách trong cuộc sống. Tất cả được kết hợp với hiến tế duy nhất của Đức Kitô, dâng lên Chúa Cha, để nên lời ca khen chúc tụng cũng như mang lại ơn cứu độ cho chính mình và cho nhân loại.
Mọi hoạt động, kinh nguyện và công cuộc tông đồ, đời sống hôn nhân và gia đình, công việc làm hằng ngày, việc nghỉ ngơi thể xác và tinh thần, nếu họ chu toàn trong Thánh Thần và cả đến những thử thách của cuộc sống, nếu họ kiên trì đón nhận, thì tất cả đều trở nên của lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa nhờ Chúa Giêsu Kitô

Vai trò ngôn sứ
Ngôn sứ hay tiên tri là những người được Chúa tuyển chọn, thay mặt Chúa để nói Lời và ý muốn của Người cho nhân loại. Đức Giêsu là vị ngôn sứ vĩ đại, Người đến và nói “những điều đã nghe biết nơi Chúa Cha”. Đức Giêsu là điểm thành toàn của tất cả các ngôn sứ; nói cách khác, tất cả các ngôn sứ đều là chuẩn bị và loan báo Đức Giêsu sẽ đến.
Người giáo dân tham gia vào chức vụ ngôn sứ của Đức Giêsu bằng cách góp phần vào sứ vụ loan báo ý định cứu độ của Thiên Chúa cho nhân loại: họ bày tỏ đức tin và đức ái cho những người chung quanh, trong lĩnh vực nghề nghiệp, và nhất là trong đời sống gia đình.
Được thánh hoá do Bí tích Hôn Nhân, hai vợ chồng cùng làm chứng cho nhau và con cái về lòng tin và tình yêu của Chúa, để cho gia đình Kitô giáo vừa là nơi huấn luyện tuyệt diệu cho công cuộc tông đồ, vừa bày tỏ sức mạnh của Tin Mừng giữa lòng thế giới.
Thiết tưởng vai trò ngôn sứ của người giáo dân trong thời đại hôm nay, còn là đọc ra ý định của Thiên Chúa qua dấu chỉ và các biến cố của thời đại, một thời đại đầy biến động, đổi thay chóng mặt. Thiên Chúa vẫn ngỏ lời với con người, nhưng điều quan trọng là con người có nhận ra và đáp trả hay không.

Vai trò vương giả
Đức Giêsu đã vâng phục Chúa Cha cho đến chết. Khi mọi sự hoàn tất, khi Người tiêu diệt hết mọi quản thần, quyền thần và dũng thần, Người trao lại vương quyền cho Thiên Chúa là Cha, để Thiên Chúa nên tất cả trong mọi sự và cho mọi người (x. 1 Cr 15,20-28).
Khi lãnh nhận chức vụ vương giả của Đức Kitô, người giáo dân được hưởng một sự tự do đích thực, tự do hào hùng của con cái Chúa, không còn làm nô lệ cho ác thần, và được ban sức mạnh để chiến thắng ách thống trị của tội lỗi nơi mình. Chức vụ vương giả này cũng thúc đẩy người giáo dân có trách nhiệm phải hăng say hoạt động để đưa tất cả mọi anh em của mình về với Thiên Chúa , cho nên người giáo dân giữa môi trường trần thế, cần phải nỗ lực làm cho trần gian thấm nhuần ơn cứu độ của Đức Kitô và đạt tới cùng đích cách hữu hiệu hơn trong công lý, hoà bình và bác ái.

 Sứ mạng thánh hoá trần thế có thể nói sứ mạng đặc trưng của người giáo dân là thánh hoá trần thế, là nên men, nên muối cho đời.

 Lời mời gọi nên thánh của mọi Kitô hữu
Nên thánh không phải là đặc quyền của riêng thành phần nào, tất cả mọi người đều được mời gọi trở nên hoàn thiện, và phải trở nên hoàn thiện. Các phương tiện nên thánh của người giáo dân cũng là những phương thế chung cho tất cả mọi tín hữu: đời sống nhân đức, được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa và các bí tích, việc cầu nguyện, hy sinh, bác ái… và những sinh hoạt hằng ngày; nhờ thế, toàn thể cuộc đời trở nên hiến tế tinh tuyền đẹp lòng Chúa và góp phần thánh hoá nhân loại.
Người giáo dân nên thánh trong những điều kiện cụ thể của cuộc sống: nơi gia đình, nơi phố chợ, nơi công sở… Nhờ sống đạo giữa lòng nhân loại như vậy, họ góp phần tích cực “Tin Mừng hoá” thế giới; một thế giới còn quá nhiều chọn lựa nghịch với giá trị của Tin Mừng. Nét đặc trưng của người giáo dân là nên thánh gữa đời, giữa những xô bồ náo nhiệt chứ không phải nơi sa mạc hoang vu hay tu viện bốn bề yên tĩnh.

Tính cách trần thế trong sứ mạng của người giáo dân
Đức Piô XII, trong bài phát biểu tại đại hội thế giới năm 1957, đã đưa ra những nhận định khá rõ nét về tính cách đặc thù trong sứ mạng của người giáo dân:
Mối tương quan giữa Giáo Hội và thế giới đòi phải có sự can thiệp của các tông đồ giao dân. Việc “thánh hiến trần gian”, trong cốt yếu, chính là công việc của người giáo dân, là những người hoà nhập một cách chặt chẽ vào đời sống kinh tế xã hội.

Đức Gioan XXIII đề cập đến vai trò người giáo dân như là lời đáp trả tiếng kêu khẩn thiết của thế giới .
Giáo Hội hôm nay phải đương đầu với một trách nhiệm lớn lao: đem sắc thái nhân bản và Kitô giáo vào trong nền văn minh hiện đại, sắc thái mà nền văn minh này đòi hỏi và dường như khẩn khoản nài xin, nhằm lợi ích phát triển và sự hiện hữu của nền văn minh ấy. Giáo Hội chu toàn cách trách nhiệm ấy, đặc biệt nhờ các giáo dân, là những người phải cảm thấy mình dấn thân vào việc thực hiện những hoạt động nghề nghiệp như là việc chu toàn một nghĩa vụ, như là một dịch vụ mà do họ thực hiện trong sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, trong Đức Kitô, để làm vinh danh Người.
Như vậy, với vị thế đặc biệt của mình, người giáo dân có thể thi hành những sứ mạng mà hàng giáo sĩ không thể nào chu toàn nổi. Họ đang là men Tin Mừng, là muối ướp trần gian. Người giáo dân đang nỗ lực xây dựng Nước trời ngang qua những nẻo đường trần thế, họ là lời nhắc nhở một thời cánh chung đã khởi đầu và đang tiến về sự viên mãn.
 Lời của Đức Gioan Phaolô II, trong bài giảng bế mạc Thượng Hội đồng Giám mục 1987, càng cho ta xác tín hơn sứ mạng đặc thù của người giáo dân:
Người tín hữu giáo dân được đặt vào tận biên thuỳ của lịch sử: gia đình, văn hóa, xã hội, thế giới lao động, kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật, truyền thông đại chúng, những vấn đề lớn của sự sống, của liên đới, hoà bình, đạo đức nghiệp vụ, nhân quyền, giáo dục, tự do tôn giáo.

 Những thách đố
Ở trên, chúng ta đã phác thảo linh đạo của người giáo dân dựa trên nền tảng căn bản là bí tích Thánh tẩy; thực ra, Bí tích Thánh Tẩy là nền tảng chung cho mọi Kitô hữu, bất cứ họ là giáo dân hay giáo sĩ.
 Thiết tưởng ngay trong cách phân chia này, dù có cái nhìn tích cực đến đâu, người giáo dân vẫn bị xếp hạng. Phải nói rằng Công đồng Vatican II đã có bước đột phá rất lớn trong việc xác định lại vai trò của người giáo dân trong Giáo Hội, đưa ra những suy tư định hướng cho một nền linh đạo giáo dân;

Một chút nhìn lại lịch sử, trong thiên niên kỷ thứ nhất, giáo dân và giáo sĩ phát triển song hành; bước sang thiên niên kỷ thứ hai, hình ảnh người giáo dân mờ nhạt, hàng giáo sĩ thượng tôn. Nếu dự đoán một chút về tương lai, phải chăng thiên niên kỷ thứ ba này phải là thiên niên kỷ của người giáo dân? Phải chăng cần một lối nhìn thần học mới về người giáo dân, tránh những địa vị, chức tước quá nhiều? Ở một số vùng sâu xa hẻo lánh, người giáo dân được chia sẻ một số tác vụ mà từ trước đến nay chỉ dành riêng cho hàng giáo sĩ, ví dụ như: quản trị cộng đoàn, trao Mình Thánh Chúa, thăm viếng và trao Của Ăn Đàng cho kẻ liệt…

Thánh Âutinh nói: “Làm giám mục cho anh em, tôi rất sợ; làm tín hữu đối với anh em, tôi rất an tâm. Giám mục là một chức vụ, tín hữu là một ân phúc. Giám mục là một danh hiệu nguy hiểm, tín hữu là danh hiệu đem lại ơn cứu độ”.



Quả thực, ơn gọi căn bản và cao quý nhất của mỗi người, đó là ơn gọi được làm Kitô hữu. Qua Bí tích Thanh Tẩy, người tín hữu được tháp nhập vào Thân thể Mầu nhiệm của Đức Kitô, được quy tụ thành dân Thiên Chúa, được chia sẻ 3 chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô. Dù là giáo dân hay giáo sĩ, tất cả đều bình đẳng và được trân trọng như những bộ phận khác nhau trong cùng một thân thể. Mỗi bộ phận có chức năng riêng, nhưng tất cả đều nhằm phục vụ cho lợi ích chung ,  cần phải triển khai ơn gọi là Kitô hữu, như ơn gọi nền tảng của mọi thành phần dân Chúa, và đặc biệt phải giúp người giáo dân nhận ra phẩm giá và vai trò đặc biệt của mình là một Kitô hữu sống ơn gọi giáo dân, cũng như những Kitô hữu khác sống ơn gọi tu sĩ, linh mục.

Chính từ ý thức này, người giáo dân cần phải dấn thân vào trần thế như một chức năng riêng biệt. Phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, tuỳ theo nghề nghiệp, tuổi tác, tình trạng bản thân, môi trường văn hoá, kinh tế, chính trị… người giáo dân phải thích ứng và đem vào đó những giá trị Tin Mừng trong thế giới hôm nay .

Khởi đi từ những mệnh lệnh của Tin Mừng: “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại?… Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không thể nào che dấu được” (Mt 5,13-14),





GIUSE .NGƯỜI CÔNG CHÍNH



"Ông Giuse, chồng bà, là người CÔNG CHÍNH.
và không muốn tố giác bà" (Mt 1,19).


Sự công chính phải là một sự thành thực với chính mình, lắng nghe tiếng nói lương tâm và can đảm thi hành những gì lương tâm nói cho biết là chính đáng, là điều Thánh Ý Thiên Chúa.
Đó là một sự công chính trong tâm hồn chứ không phải chỉ là hành vi bên ngoài, sự công chính được tỏ hiện ra trong sự tôn trọng người khác chính là nhờ thái độ thành thực với chính mình .

Sự công chính đích thực không là gì khác hơn một tấm lòng luôn mở rộng để đón nhận Thánh Ý Thiên Chúa và can đảm và thi hành Thánh Ý Người.

Sự công chính của thánh Giuse chính yếu là thái độ luôn mở lòng ra để đón nhận sự thật, là sẵn sàng đón nhận Thánh Ý Thiên Chúa dù Thánh Ý Chúa có trái ngược điều mình mong muốn, có làm đảo lộn tất cả dự định trong cuộc đời, Thánh Giuse vẫn can đảm đón nhận trọn vẹn. Chính vì điều đó làm cho thánh Giuse trở nên mẫu mực của một sự công chính , một sự công chính không do nhận định của xã hội, nhưng chỉ qui chiếu vào một mình Thiên Chúa

Cuộc đời chúng ta luônluôn có nhưng điều bất ngờ, trái ý, kỳ quặc, khó hiểu. Nếu chỉ suy nghĩ theo sở thích ích kỷ, hèn nhát của mình, chúng ta sẽ dễ dàng bực dọc, tức tối, phản kháng . Tức tối thực ra chỉ là một cách đầu hàng cuộc đời, một cách tự dối lòng mình.
Trong cuộc đời cũng có những lúc các người chung quanh ta, người thân, bạn bè lại không sống đúng như ta tưởng. Nếu ta đóng cửa lòng lại, không còn muốn nghe sự thật, không còn muốn đón nhận một lời giải thích nào khác, ta sẽ chẳng còn có thể nhận ra được sự thật và vội kết án người khác theo ý lòng của mình.

Thánh Ý Thiên Chúa không phải lúc nào cũng hợp với ý thích của chúng ta. Nhờ sự công chính, thánh Giuse đã hiểu được điều đó, Người luôn sẵn sàng, mau mắn thi hành ý Chúa. Chúng ta cũng cùng học với thánh Giuse để hiểu được cách thức Thiên Chúa muốn thực hiện chương trình của Ngài trong đời ta.
Chỉ có một sự sẵn sàng lắng nghe ý Chúa mới có thể làm cho ta nên công chính, mới có thể giúp ta khám phá ra những điều huyền nhiệm của cuộc đời .
Hãy để Thiên Chúa dẫn dắt cuộc đời ta qua những nẻo đường từ đó ta mới có thể cảm nhận được tình yêu bao la của Chúa dành cho ta. Một tình yêu bất diệt .








ĐỀN THỜ TÂM HỒN





Gần đến lễ Vượt Qua của người Do-thái, Đức Giêsu lên thành Giêrusalem.Người thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ , còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật ngược bàn ghế của họ. Người nói với những kẻ bán bồ câu: "đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán." 


"đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán."

Cảnh mua bán ở Đền Thờ Giêrusalem củng không xa lạ gì  trong cuộc sống hiện nay vì nguyên do , là chính những người có trách nhiệm và bổn phận , đáng lẽ ra phải giữ sự thanh sạch của Đền Thờ, thì họ đã làm Đền Thờ trở thành nơi mua bán  đánh mất những giá trị thiêng liêng cao cả.

Trong thế giới hôm nay, đang mất dần những giá trị căn bản của nhân phẩm, đưa đẩy con người vào thói thụ hưởng ,ích kỷ, chỉ biết nhắm tới vì lợi ích cá nhân.... con người chạy theo hưởng thụ nhất thời. Đắm chìm trong những cuộc vui hạ đẳng coi thường nhân phẩm. Người với người đối xử với nhau lạnh lùng. Trong giao tế, lấy tiêu chuẩn lợi lộc cá nhân làm hàng đầu. Tình thương đồng loại trở thành thứ yếu . Cuộc sống mất dần ánh sáng Chân Lý, ở bên ngoài, và ở ngay chính lòng mình .Làm cho con người đi vào ngỏ cụt trong tối tăm.

Sống để làm gì và sống cho ai ? 

Có ý nghĩa gì đâu một thân xác nặng nề  và một tinh thần tăm tối bạc nhược ?
 Con người không còn nhận ra vị trí của mình trên bậc thang giá trị của một loài thụ tạo mà Thiên Chúa dựng nên .

Đền thờ Tâm Hồn

 Đền thờ Tâm Hồn của mỗi người theo gương Chúa Giêsu , là một đền thờ hoàn hảo, vững bền, không thể phá đổ, vì thuộc về Thiên Chúa. Đền Thờ Tâm Hồn theo gương Chúa Giêsu là dâng cả cuộc đời lên Thiên Chúa Cha trọn vẹn.

“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha”. 

Đền Thờ Tâm Hồn theo gương Giê-su làm cho con người đat niềm hạnh phúc đích thực, vì hạnh phúc đích thực của kiếp người là để được sống đời đời. Chung hưởng vinh quang và tôn thờ với Thiên Chúa .

“Tôi nói cho các ông hay: từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến”(Mt 26,64)



Lạy Chúa,
Xin cho lòng con sạch trong
Nhờ dòng Máu Cứu Chuộc của Ngài.
Xin tẩy xóa mọi vết nhơ tội lỗi trong tâm hồn con.
Xin bảo vệ con khỏi những quyến rũ và đam mê bất chính.
Xin Thánh Hóa Tâm Hồn con,
Để con được hưởng vinh dự và niềm hạnh phúc.
Là Đền Thờ Thiên Chúa…
Bây giờ và mãi mãi. Amen.










PHANXICÔ ASSISI SỨ GIẢ HÒA BÌNH






Thánh Phanxicô Assisi, vị sứ giả Hòa Bình, không những đã có một tình bác ái cao độ đối với con người, Ngài còn trải dài tinh yêu thương ấy đến cả muôn vật, cỏ cây.

Cây cỏ gợi lại cho Thánh nhân chính Cây thập giá của Chúa Giêsu, do đó, Thánh nhân cảm thấy thương tâm vô cùng mỗi khi có người hành hạ cây cỏ. Ngài nói với người làm vườn như sau: Anh hãy để lại một góc vườn nguyên vẹn. Ðừng sờ đến cây cỏ, hãy để cho chúng sinh sôi nảy nở và lớn lên, ngay cả cỏ dại và hoa dại.

Mỗi lần đi qua góc vườn ấy, Ngài bước đi nhẹ nhàng và cẩn thận để không sát hại bất cứ một loại sâu bọ, côn trùng nào.
Gặp người ta mang chiên và chim rừng ra chợ bán, Ngài mua hết để rồi phóng sinh chúng.

Ngài nói với chim chóc như sau: "Hỡi những người anh em nhỏ bé của tôi, anh em phải ca ngợi Ðấng Tạo Hóa hơn ai hết, vì Ngài đã ban cho anh em bộ lông đẹp, giọng hát hay cũng như lúa thóc anh em ăn thỏa thuê mà không phải gieo vãi".

Với chú chó sói, thánh nhân nhắn nhủ: "Anh sói ơi, anh quả thật đáng chết, vì anh đã cắn xé trẻ em. Anh hãy làm hòa với loài người. Từ nay, anh hãy ăn ở hiền lành và mọi người sẽ cung cấp đầy đủ cho anh". Chú sói ấy đã cùng với thánh nhân lên tỉnh và trở thành người bạn thân của các trẻ em ở Gubbio.

Một con người có tâm hồn như thế quả thực xứng đáng được chọn làm sứ giả Hòa Bình qua mọi thời đại.

Năm 1979, Ðức Gioan Phaolô II đã công bố Thánh Phanxico là quan thầy của những người khởi xướng phong trào của những người bảo vệ môi sinh. Ngài nói trong phần mở đầu sứ điệp Hòa Bình năm 1990 như sau: "Ngày nay, con người mỗi lúc một ý thức rằng Hòa Bình của thế giới không những chỉ bị đe dọa vì cuộc chạy đua võ trang, vì các xung đột giữa các vùng và những bất công liên tục giữa các dân tộc và quốc gia, nhưng còn bởi vì thiếu tôn trọng đối với thiên nhiên nữa".

Ðức Gioan Phaolô II đã nói đến việc bảo vệ và tôn trọng môi sinh như một nghĩa vụ luân lý.

Người Kitô nhận thức được nghĩa vụ ấy, bởi vì Thiên Chúa đã tạo dựng nên muôn vật tốt đẹp và để con người hưởng dụng một cách hợp lý. Trong phần kết thúc sứ điệp, Ðức Thánh Cha đã nhắc đến Thánh Phanxico Assisi như mẫu gương của sự tôn trọng đối với thiên nhiên vạn vật. Thánh nhân đã mời gọi vạn vật dâng lời chúc tụng và thờ lạy Thiên Chúa. Trong sự bình an của Thiên Chúa, Thánh nhân kiến tạo ngay cả sự hòa hợp với thiên nhiên và sự hòa hợp ấy cũng là điều kiện tiên quyết để được hòa bình với tha nhân.






CỘNG ĐOÀN KITÔ GIÁO



 Những luật sống chung trong Giáo Hội trong cộng đoàn Kitô giáo đều nhắm đến là làm cho Đức Ái được mọi người tôn trọng.

Chúa chỉ dẫn cho chúng ta cách thức phải giữ trong trường hợp có tranh chấp. Công việc đầu tiên phải làm là tạo sự gặp gỡ, giữa cá nhân và cá nhân trong ước muốn tìm hiểu nhau hơn. Có hai trường hợp có thể xảy ra, dựa trên ý nghĩa của câu nói: “Nếu người anh em của con phạm tội”. Theo nghĩa đầu tiên thì hễ người nào phạm đến Thiên Chúa cách tỏ tường, trong trường hợp này, phải bắt đầu bằng cách giữ kín điều lầm lỗi mà mình biết được, rồi với thái độ thông cảm, tìm cách đưa người anh em ra khỏi chỗ lầm lạc. Theo nghĩa thứ hai, hễ người nào đó có lỗi với chúng ta, tức là làm hại đến chúng ta, lúc đó phải tìm cách giúp người anh em có lỗi hiểu rõ sự thiệt hại đã gây ra cho chúng ta, rồi không làm nữa. Nếu công việc đầu tiên ấy tỏ ra không có kết quả, lúc đó người ta mới chạy tới cộng đoàn để xin sửa trị kẻ lầm lỗi. Và nếu lúc đó kẻ ấy cũng không sửa mình, ta vẫn không có quyền khai trừ, không cầu nguyện và không tha thứ cho kẻ ấy, nhưng ta có cớ để cắt đứt ít nhiều mối tương quan thuộc phạm vi xã hội.

 Điều mà chúng con ràng buộc ở dưới đất… Ta vừa thấy Chúa ban cho “Giáo Hội”, cho cộng đoàn Kitô giáo, quyền xét xử cách ăn ở của một trong các thành phần của Giáo Hội.  

Giáo Hội chỉ có thể làm được điều này nhờ những người có trách nhiệm. Người ta có quyền đi từ Giáo Hội, quan niệm dưới khía cạnh quyền bính, đến con người của các vị thủ lãnh. Trong Giáo Hội toàn thể các tín hữu sống Đức tin, nhưng do ý muốn của Chúa Kitô, cũng có những người mang trách nhiệm giáo dục đức tin và giúp kẻ khác thực hành đức tin cách trung thành. Đó là các tông đồ với vị thủ lãnh là Phêrô. Ngày nay ta có các giám mục và vị thủ lãnh là Đức Giáo Hoàng. Ở điểm này, một đoạn khác trong Tin Mừng Matthêu có nói rõ về vai trò nổi bật của Phêrô và qua đó vai trò của Đức Giáo Hoàng (Mt 16, 19). Phêrô xưa vốn là Giám mục của giáo phận La mã. Đức Giám mục của La mã đích thân là người kế vị của Phêrô. Người tiếp tục giữ quyền hành và chức vụ của Phêrô. Các vị tông đồ khác lập thành Giám mục đoàn đầu tiên, mặc dầu không được cơ cấu hóa nhưng là có thực. Ngày nay các vị Giám mục là những người kế vị tập thể các tông đồ với các quyền hạn và chức vụ của các ngài. Do ý muốn của Chúa Kitô, Phêrô có quyền trên toàn thể các tông đồ. Cũng thế, Đức Giáo Hoàng ngày nay cũng có quyền trên đoàn thể các Giám mục. Cái quyền ấy nằm trong địa vị nổi bật đối với cá nhân Người và cũng là quyền quyết định trong việc chia sẽ một công việc chính yếu là cai quản Cộng đoàn của Giáo Hội.

 Cộng đoàn sống trung thành với đức tin và đức ái lôi kéo sự hiện diện của Chúa Kitô.

Khi các Kitô hữu, dầu là ít ỏi và nếu chỉ có hai người đi nữa, mà tụ họp với nhau nhân danh Đức Giêsu thì Người ở giữa họ. Điều ấy có nghĩa là, khi chỉ có hai người công giáo với nhau, và nếu họ biết thông cảm trong đức tin và đức ái, họ làm thành một tế bào của giáo hội. Không biết người ta có thấy được tầm quan trọng của điều này trong đời sống gia đình, lúc hội họp anh chị em trong khu phố hay trong những hoạt động chung để mở rộng Nước Chúa? Một nhận xét quan trọng: lẽ dĩ nhiên là một tế bào của Giáo Hội chỉ có giá trị khi giữ được liên lạc và đoàn kết với Giáo Hội phổ quát cách mật thiết.